Vào đời vua Hùng thứ 6, nhà vua muốn tìm một loại lễ vật để cúng Tiên Vương. Trong khi những người con khác mang đến sơn hào hải vị, thì chàng hoàng tử thứ mười tám là Lang Liêu khi được thần nhân mách bảo, đã mang đến hai món bánh ngon làm từ hạt gạo thân thuộc là bánh chưng và bánh giầy.
Tượng trưng cho Đất, chiếc bánh chưng có hình dáng vuông vức, đẹp mắt, nhân bên trong là thịt mỡ với đậu xanh, bên ngoài là những hạt nếp chắc mẩy được gói cẩn thận bằng lá dong và luộc chín.
Tượng trưng cho Trời, bánh giầy tròn, trắng muốt được làm từ nếp quết nhuyễn, dẻo và thơm. Hai chiếc bánh là Trời Đất, ôm lấy vạn vật, là công ơn dưỡng dục của cha mẹ, chẳng gì trên đời này có thể sánh bằng.
Đặc điểm của bánh chưng, bánh giầy
Một chiếc bánh chưng đẹp và chuẩn có hình vuông đều các cạnh, mỗi cạnh thường trên 20cm, độ dày 5 - 6 cm. Bên ngoài bánh được gói bằng hai đến ba lớp lá dong đã được tuyển chọn, rửa sạch và buộc bằng 4 hoặc 6 lạt dang.
Bánh giầy có hình tròn, có độ dẻo và dai do được đồ kỹ rồi giã trong cối cho đến khi dẻo quánh. Bánh có đường kính từ 5 - 7cm, độ dày 1 - 2cm. Khi làm xong, bánh sẽ được gói trong lá chuối tươi và ăn cùng chả lụa.
Tham khảo một số công thức làm bánh giầy cực ngon cho ngày Tết thêm tròn vị
Tượng trưng cho Đất Trời
Là một dân tộc với nền văn minh lúa nước lâu đời, mỗi món ăn của người Việt Nam luôn có một câu chuyện, một sự tích đi kèm - bánh chưng bánh giầy cũng không phải là ngoại lệ.
Khi xuất hiện trong giấc mơ của Lang Liêu và mách bảo chàng, thần nhân đã giảng giải cặn kẽ về nguyên liệu làm nên chiếc bánh là gạo - hạt ngọc Trời nuôi nấng tâm hồn người Việt.
Hơn nữa, bánh chưng hình vuông, bánh giầy hình tròn chính là sự đại diện cho Đất Trời, hai thứ mà nhân dân tôn thờ, luôn ôm lấy, bao bọc và che chở nhân dân.
Thể hiện sự yêu thương
Chẳng phải tự nhiên mà bánh chưng, bánh giầy được chọn là những món ăn đặc biệt quan trọng dịp Tết. Chỉ cần nhìn thấy hình dáng bên ngoài, bạn cũng có thể cảm nhận được sự tỉ mỉ, công phu của người đã làm nên chiếc bánh.
Chiếc bánh chưng được gói vuông vức, cẩn thận, những hạt nếp được lựa chọn tỉ mỉ khi phải đều nhau tăm tắp, chẳng sức mẻ.
Đậu xanh vàng óng, đã được tách vỏ, thịt heo phải có chút nạc chút mỡ mới thật ngon, lá dong chỉ chọn những lá xanh mượt, bản to và đều nhau. Đặc biệt, bánh chưng phải được gói bằng lá dong thì mới đúng điệu.
Chính nhờ đôi bàn tay khéo léo, tình yêu thương vô bờ gói trọn trong những chiếc bánh chưng, bánh giầy càng khiến cho món bánh càng trở nên đặc biệt và đáng quý hơn.
Thể hiện cho vũ trụ, nhân sinh
Trong tín ngưỡng phồn thực của người Việt ta, bánh giầy tượng trưng cho âm, bánh chưng đại diện cho dương.
Trên mâm cúng ngày lễ, bánh giầy dành cho mẹ Tiên, bánh chưng dành cho cha Rồng - những nhân vật truyền thuyết đã tạo nên dân tộc Lạc Việt sau này.
Sự kết hợp của hai loại bánh này trong ngày Tết thể hiện mong muốn sự sinh sôi nảy nở ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn.
Thể hiện sự no đủ, thịnh vượng
Một chiếc bánh chưng gồm đủ các nguyên liệu từ động vật đến thực vật như thịt mỡ, đậu xanh, gạo nếp, lá dong thể hiện sự sung túc, ấm no. Bánh giầy với hình tròn đầy đặn chính là sự đầy đủ, trọn vẹn trong cuộc sống.
Tuy đó là những điều nhỏ bé, đơn giản nhưng lại là tất cả những mong cầu của người dân vào mỗi dịp Tết đến, Xuân về.
Nguồn gốc của bánh tét
Từ "thuở mang gươm đi mở cõi" ở vùng đất phương Nam, người Việt đã có cơ hội tiếp thu không chỉ văn hoá mà còn là nền ẩm thực vô cùng đặc sắc của người Chăm Pa.
Trải qua quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, chiếc bánh tét mà ngày nay người miền Nam và miền Trung vẫn hay nấu mỗi dịp Tết, ra đời từ sự hình tượng hóa Linga của thần Shiva theo tín ngưỡng người Chăm.
Hơn nữa, nhờ tín ngưỡng đa thần của nền văn hóa Chăm, trong đó có tín ngưỡng Phồn thực, thờ thần lúa, mà ta có bánh tét của ngày hôm nay.
Ngoài nguồn gốc trên, còn có một gia thoại khác kể rằng vào thời Vua Quang Trung đánh giặc Thanh vào mùa xuân năm 1789, khi cho quân nghỉ ngơi, nhà vua được một người lính mời và đã được nếm thử chiếc bánh lạ này.
Thấy được tình yêu thương với người vợ, với quê nhà và chiếc bánh của người lính, từ đó, vua ra lệnh cho mọi người gói bánh này ăn vào dịp Tết và gọi là bánh Tết. Qua thời gian, tên gọi của bánh được đọc lái thành bánh tét như ngày nay.
Đặc điểm của bánh tét
Với hình dáng trụ tròn cao khoảng 20 - 25cm, bánh tét còn được gọi là bánh đòn vì vẻ bề ngoài của nó. Bánh được gói bằng lá chuối còn tươi, nguyên vẹn và xanh mướt, quấn chặt xung quanh bằng gân lá. Thông thường, hai đòn bánh tét sẽ được nối với nhau bằng gân lá chuối thành một cặp.
Có điểm tương đồng với bánh chưng về phần nhân bao gồm gạo nếp, đậu xanh, thịt mỡ, chỉ khác với lớp lá chuối bên ngoài. Ngoài ra, bánh tét còn được gói chay với nhân đậu xanh, đậu đen hay chuối với đủ mọi kích cỡ khác nhau, vô cùng đa dạng.
Thể hiện truyền thống dân tộc
Vào những ngày đất nước còn loạn lạc, những chiếc bánh tuy đơn giản nhưng lại làm no bụng, ấm lòng người lính nơi tiền tuyến, giúp họ chuyên tâm đánh giặc hơn.
Nhờ chiếc bánh đó, tình cảm của vợ chồng giành cho nhau càng thêm khắng khít, tình yêu dành cho quê hương càng nồng đượm hơn.
Vua Quang Trung không chỉ có tài đánh giặc giỏi, ngài còn là người biết nghĩ đến truyền thống dân tộc khi ra lệnh cho nấu nên những chiếc bánh Tết này mỗi dịp Tết để nhắc nhở con cháu đời sau phải biết quý trọng hơn về cội nguồn của mình.
Thể hiện sự bao bọc, yêu thương
Vào những ngày giáp Tết, hình ảnh bà và mẹ tỉ mẩn gói đừng đòn bánh tét, đặt trọn tình yêu thương vào những chiếc bánh mà mình làm ra.
Từng lớp bánh bao bọc lấy nhau, đậu bọc lấy nhân, nếp bọc lấy đậu và lớp lá chuối thơm lừng bao lấy cả đòn bánh một cách nhẹ nhàng, nâng niu như tình cảm của người mẹ bao bọc lấy đàn con của mình.
Bánh tét có thể được làm và được ăn suốt năm, nhưng chiếc bánh tét ngày Tết mới thật ý nghĩa. Cũng giống như người mẹ nào cũng mong con về nhà, nhất là những dịp Tết đến Xuân sang.
Thể hiện sự ấm no, hạnh phúc
Mỗi một nguyên liệu được gói trong bánh tét đại diện cho một nguyên liệu cần thiết trong đời sống. Thịt mỡ, đậu xanh và nếp được quyện chặt vào nhau, tạo nên một món bánh mà người Nam bộ nào cũng yêu thích.
Những khoanh bánh tét được cắt ra bằng gân lá, lộ rõ phần nhân đầy đặn bên trong rồi trang trọng đặt lên bàn thờ, mâm cúng của người dân với mong ước năm nào cũng được ấm no, hạnh phúc và đủ đầy.
Khi những cơn mưa bắt đầu thưa dần thì cũng là lúc người nông dân miền Nam bước vào mùa rẫy Tết, một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống tự cung, tự cấp của cư dân miền sông nước trước kia tồn tại cho đến ngày này. Trái khổ qua là một trong những loại hoa màu không thể thiếu của rẫy Tết. Khổ qua còn được gọi là hủ qua, mướp đắng. Là loại cây có thể trồng được quanh năm, nhưng để có trái bán vào vụ Tết, thường người dân sẽ xuống giống vào khoảng tháng 10, 11 âm lịch hàng năm. Ở Nam Bộ, Tết là thời điểm trái khổ qua có thị trường tiêu thụ mạnh và giá cả cũng tăng cao hơn. nhờ đặc tính giống loài, việc trồng khổ qua không hề… khổ chút nào, trái lại rất dễ dàng từ khâu gieo hạt, chăm sóc đến thu hoạch. Vậy nên dù thuộc loại có vị đắng nhất nhì trong các loại quả, nó vẫn luôn chiếm được cảm tình của mọi người. Trong những ngày đầu năm mới, người dân Nam bộ thường chọn nấu món canh khổ qua với mong muốn mọi điều “khổ”, mọi vận hạn xui rủi, mọi điều chưa được may mắn, mọi vất vả gian lao sẽ qua đi. Như vậy, năm mới sẽ khởi đầu với những điều tốt lành nhất, hạnh phúc nhất, mọi thứ đều suôn sẻ, thuận lợi. Mang cái tên đầy ý nghĩa, loại quả này đã được trân quý đem dâng lên cùng mâm cơm cúng tổ tiên vào ngày 30 Tết.
Trái khổ qua không chỉ là món ăn của sự may mắn, mà ở một số vùng quê miền Tây Nam bộ, nó đã đi vào thơ ca dân gian như một minh chứng cho sự thủy chung: “Dây khổ qua bông vàng nhụy trắng/ Trái khổ qua tuy đắng nhưng đượm tình”. Khổ qua để nấu canh phải là những trái có màu xanh đậm, suôn dài dễ nhồi thịt. Khổ qua để nguyên trái, vạt chéo một đầu rồi dùng muỗng lấy hết phần hạt và ruột bên trong, sau đó cho vào nước ngâm thật sạch, vừa giảm được độ đắng của khổ qua. Nhân khổ qua khá đa dạng, có thể được chế biến từ cá thát lát, tôm… Tuy nhiên món ăn ngon được nhiều người yêu thích và hợp vị nhất vẫn là khổ qua nhồi thịt bằm. Thịt được trộn lẫn cùng mộc nhĩ thái nhỏ, bún khô (ở một số nơi người ta có thể thay thế bằng miến), hành củ thái nhỏ. Để có hương vị đậm đà, nhân được tẩm ướp cùng nước mắm, hạt nêm và một ít tiêu. Đặc trưng của loại quả này là có vị đắng hậu ngọt tự nhiên. Mà vị đắng hòa với ngọt sẽ làm cho vị càng thêm đắng nên trong khi chế biến tuyệt nhiên không dùng đường. Phần nguyên liệu được tẩm ướp khoảng chừng 10 -15 phút để thấm gia vị. Khổ qua muốn đẹp mắt đòi hỏi người dồn thịt phải thật khéo léo, lượng nhân vừa đủ. Nếu cho ít, nhân sẽ bị vỡ, còn cho quá nhiều sẽ làm cho quả bị nứt vỏ.
Một trong những bí quyết để có món canh khổ qua đậm đà hương vị, đó là nhờ phần nước nấu. Nhiều gia đình thường sử dụng nước dừa xiêm, mà dừa cũng phải biết lựa trái không được quá già, vì già sẽ có mùi dầu làm biến đổi hương vị món ăn. Khi nấu thì phải đợi cho nước sôi già mới thả khổ qua vào, chú ý canh lửa và canh thời gian, sao cho khổ qua chín có độ mềm vừa phải, có vậy mới đảm bảo giữ được mùi thơm hương vị. Mặc dù là món ăn thường ngày khá quen thuộc với nhiều người, nhiều gia đình trên khắp cả nước, tuy nhiên khi xuất hiện trên mâm cỗ ngày Tết của người miền Nam, thì món canh khổ qua lại trở nên ý nghĩa vô cùng. Nếu coi ẩm thực là một bức tranh nghệ thuật đầy màu sắc, thì trong mâm cơm ngày Tết của người dân Nam bộ, món khổ qua là một nét chấm phá nổi bật. Món ăn truyền thống này đã tạo nên phong vị đặc trưng về văn hóa ẩm thực rất riêng, không thể nào nhầm lẫn với vùng miền nào khác. Hương vị khổ qua vì thế đã mang vị ngọt ngào mà mỗi gia đình Nam bộ đều không thể thiếu.
Thịt kho hột vịt không phải món ăn cao sang, cũng không gắn với cung đình hay lễ nghi phức tạp. Món ăn này ra đời từ chính đời sống nông nghiệp truyền thống, nơi người Việt coi trọng sự no đủ, bền bỉ và tính tiết kiệm trong sinh hoạt.
Trong xã hội xưa, thịt là thực phẩm quý, chỉ xuất hiện nhiều vào những dịp đặc biệt như giỗ chạp, lễ Tết. Việc kho một nồi thịt lớn với trứng vịt không chỉ để ăn một bữa mà còn dùng được nhiều ngày, phù hợp với quan niệm “ăn Tết” kéo dài, hạn chế việc bếp núc trong những ngày đầu năm mới.
Thịt heo tượng trưng cho sự sung túc, đủ đầy, còn trứng vịt mang ý nghĩa sinh sôi, nảy nở. Khi kho chung trong nồi nước dừa – thứ nguyên liệu đặc trưng của miền nhiệt đới – món ăn lại càng mang hàm ý về sự tròn đầy, ngọt lành, hanh thông.
Không phải ngẫu nhiên mà người xưa quan niệm: đầu năm ăn món gì thì cả năm “đi” theo hướng đó. Một nồi thịt kho hột vịt có đủ mặn – ngọt – béo – bùi, thể hiện mong ước năm mới cân bằng, thuận hòa, không quá khắc nghiệt cũng chẳng thiếu thốn.
Một điểm đặc biệt của thịt kho hột vịt là hầu như nhà nào cũng nấu trước Tết, thậm chí từ 28–29 tháng Chạp. Điều này không chỉ vì món ăn để được lâu mà còn xuất phát từ quan niệm kiêng kỵ đầu năm.
Theo quan niệm dân gian, những ngày mùng 1, mùng 2 Tết là thời điểm “mở vận”, gia chủ hạn chế sát sinh, hạn chế cãi vã, hạn chế bếp núc rườm rà. Việc có sẵn một nồi thịt kho lớn giúp gia đình vừa có đồ ăn tươm tất, vừa giữ được không khí an yên, thong thả.
Càng kho lâu, thịt càng mềm, trứng càng thấm, nước kho càng trong và sánh. Người miền Nam thậm chí còn quan niệm: nồi thịt kho mà không ăn hết trong 2–3 ngày Tết là… chưa đủ đông vui. Mỗi lần mở nắp nồi, múc thêm miếng thịt, gắp thêm quả trứng cũng giống như kéo dài không khí sum vầy.
Với nhiều người xa quê, mùi thịt kho hột vịt còn là “tín hiệu ký ức” mạnh mẽ nhất của Tết. Chỉ cần ngửi thấy hương nước dừa quyện mùi thịt kho, cả một miền tuổi thơ, những bữa cơm đông đủ, tiếng cười rộn ràng ngày Tết lập tức ùa về.
Dù mỗi vùng miền có những món Tết khác nhau, nhưng tựu trung lại, mâm cỗ Tết của người Việt luôn phản ánh rõ triết lý sống: coi trọng gia đình, hướng về cội nguồn và đề cao sự hài hòa.
Nếu miền Bắc có bánh chưng, dưa hành, giò chả; miền Trung có bánh tét, nem chua, tré; thì miền Nam không thể thiếu thịt kho hột vịt, canh khổ qua nhồi thịt, dưa giá. Mỗi món ăn đều mang một thông điệp riêng: bánh chưng tượng trưng cho đất trời, khổ qua mang ý nghĩa “khổ đã qua”, còn thịt kho hột vịt là lời chúc cho năm mới no ấm, đủ đầy.
Điểm chung của các món ăn ngày Tết là không quá cầu kỳ về hình thức, nhưng đòi hỏi sự chỉn chu, tỉ mỉ trong cách chuẩn bị. Nấu thịt kho hột vịt ngon không khó, nhưng để nước trong, màu đẹp, thịt mềm mà không nát, trứng thấm mà không khô lại cần sự kiên nhẫn – cũng giống như cách người Việt vun vén hạnh phúc gia đình qua từng năm tháng.
Ngày nay, nhịp sống hiện đại khiến nhiều gia đình chọn mua sẵn đồ ăn, thậm chí bỏ bớt một số món truyền thống. Thế nhưng, thịt kho hột vịt vẫn là món được giữ lại nhiều nhất. Bởi hơn cả một món ăn, đó là biểu tượng của Tết đoàn viên, của bếp lửa gia đình và của sự nối dài văn hóa qua các thế hệ.
Có thể mỗi nhà nêm nếm khác nhau, có nhà kho mặn, nhà kho ngọt, có nhà cho nhiều trứng, có nhà ít thịt. Nhưng khi nồi thịt kho được đặt lên mâm cơm ngày Tết, tất cả đều chung một ý nghĩa: ăn Tết là để quay về, để ngồi lại và để nhớ rằng mình thuộc về một gia đình.
Giò chả là món ăn thường xuyên góp mặt vào mâm cỗ ngày Tết. Giò chả thường được cắt miếng bày thành hoa rất đẹp mắt. Giò chả chính là biểu tượng của phúc lộc. Có 3 loại giò đặc trưng và phổ biến là giò lụa, giò bò và giò xào. Mỗi loại giò mang đến hương vị riêng nhưng điều quan trọng để món giò chả thực sự hấp dẫn là mùi thơm của lá chuối, vị nước mắm ngon hòa quyện trong miếng giò.
Ông cha ta quan niệm rằng miếng giò tượng trưng cho sự phú quý và giàu sang. Một miếng giò hòa quyện cùng nước mắm nhĩ điểm thêm miếng dưa hành là những hương vị truyền thống khó quên trong dịp Tết Nguyên đán.