Mâm cơm ngày Tết với những món ăn truyền thống được chuẩn bị chỉn chu, dâng lên bằng cả tấm lòng thành kính để tri ân tổ tiên trước khi con cháu quây quần thụ lộc lúc nhang tàn.
Tết Nguyên Đán là dịp đoàn viên thiêng liêng, nơi những người con xa quê gác lại bộn bề để trở về, cùng gia đình quây quần bên mâm cơm ấm áp và sẻ chia những câu chuyện buồn vui sau một năm vất vả.
Mỗi món ngon trên mâm cỗ Tết đều gửi gắm một câu chuyện và ước vọng riêng: nếu bánh chưng, bánh dày tượng trưng cho sự giao hòa của đất trời với mong cầu mưa thuận gió hòa, thì bát canh khổ qua của người miền Nam lại mang theo niềm tin mãnh liệt rằng mọi muộn phiền sẽ qua đi, nhường chỗ cho những vận may gõ cửa.
Tết Nguyên Đán vốn là lễ hội "tạ ơn" sau mùa thu hoạch. Mâm cỗ ban đầu là những sản vật tinh túy nhất từ hạt gạo (bánh chưng, bánh dày), con gà, hạt đỗ... mà người nông dân dâng lên thần linh và tổ tiên để báo cáo thành quả lao động và cầu mong mưa thuận gió hòa cho vụ mùa tới.
Mâm cỗ truyền thống thường được bày biện theo những quy tắc ngầm định để đạt được sự cân bằng:
Ngũ hành: Các món ăn thường có đủ 5 màu sắc (trắng, xanh, đen, đỏ, vàng) tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Âm dương: Sự kết hợp giữa món khô và món nước (canh), giữa món béo và món chua (thịt mỡ - dưa hành) tạo nên sự hài hòa cho sức khỏe và vận mệnh.
Theo dòng chảy lịch sử, mâm cỗ Tết biến đổi để phù hợp với khí hậu và sản vật địa phương:
Miền Bắc: Thường tuân theo quy tắc "4 bát 4 đĩa" (hoặc 6 bát 6 đĩa) tượng trưng cho tứ trụ, bốn mùa.
Miền Trung: Chịu ảnh hưởng của cung đình Huế nên cách trình bày tinh tế, món ăn đậm đà, chia thành nhiều đĩa nhỏ.
Miền Nam: Phóng khoáng với các sản vật tự nhiên, đề cao ý nghĩa tâm linh qua tên gọi (như canh khổ qua, thịt kho hột vịt).